Chú Lăng Nghiêm là gì? Lợi ích rộng lớn khi tụng Chú Lăng Nghiêm
Chú Lăng Nghiêm được nhiều người chọn để trì tụng giúp tiêu trừ nghiệp chướng, đem lại tâm an lạc, loại bỏ các năng lượng tiêu cực. Loại thần chú này có nhiều tác dụng và ý nghĩa khi bạn trì tụng thường xuyên. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về Chú Lăng Nghiêm.
Chú Lăng Nghiêm là gì?
Kinh Chú Lăng Nghiêm (tiếng Phạn là Shurangama Mantra) là thần chú gồm có 5 bộ là đệ nhất hội – đệ nhị hội – đệ tam hội – đệ tứ hội – đệ ngũ hội. Mỗi bộ một phương giúp tăng trưởng lòng từ bi, trí tuệ.
Chú Lăng Nghiêm khá dài, khó nhưng đòi hỏi các Tăng Ni đều phải học thuộc. Khi bạn thành tâm tụng niệm thì sẽ nhận được nhiều lợi ích to lớn.
Nguồn gốc của Chú Lăng Nghiêm
Chú Lăng Nghiêm được ghi chép trong kinh Lăng Nghiêm, một bộ kinh Đại thừa được truyền từ Ấn Độ sang Trung Hoa vào thế kỷ thứ VII. Kinh kể lại rằng Đức Phật Thích Ca đã truyền bài chú này để giúp tôn giả A Nan thoát khỏi tà chú của Ma Đăng Già. Sau đó, bài chú được lưu truyền và trở thành một trong những thần chú quan trọng nhất trong Phật giáo Đại thừa, đặc biệt trong các nghi lễ tu tập.
Lợi ích của Chú Lăng Nghiêm
Chú Lăng Nghiêm có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ thân tâm, thanh tịnh tâm trí và tăng trưởng công đức. Cụ thể:
Thanh tịnh tâm hồn: Khi đọc chú, tâm trí tập trung vào âm thanh linh thiêng, giúp thanh lọc vọng tưởng, giảm phiền não và đưa hành giả về trạng thái chánh niệm, bình an.
Tiêu trừ nghiệp chướng: Chúng sinh trong thời Mạt Pháp bị chi phối mạnh mẽ bởi tham, sân, si, khiến tâm trí bị xáo động, khó phân biệt đúng sai. Những nghiệp chướng tích lũy qua nhiều đời khiến con người gặp phải nhiều khổ đau và chướng ngại trong cuộc sống. Việc trì tụng Chú Lăng Nghiêm có thể giúp thanh lọc tâm hồn, tiêu trừ vọng tưởng và dẫn dắt hành giả trở về với bản tâm thanh tịnh. Khi tâm đã được trong sạch, hành giả có thể nhìn nhận rõ ràng bản chất của mọi sự vật, không còn bị dính mắc vào những ảo tưởng sai lầm của thế gian.
Hộ trì đạo pháp và gia đình: Không chỉ mang lại lợi ích cho cá nhân, Chú Lăng Nghiêm còn có tác dụng lan tỏa năng lượng từ bi, giúp xã hội trở nên hòa hợp hơn. Khi nhiều người trì tụng bài chú này, năng lượng thanh tịnh sẽ được cộng hưởng, giúp hóa giải những mâu thuẫn, oán hận trong các mối quan hệ. Khi lòng từ bi được nuôi dưỡng, con người sẽ bớt đi sân hận, biết yêu thương và cảm thông hơn, từ đó góp phần tạo nên một thế giới an bình và hài hòa.
Xem thêm: Chú Chuẩn Đề là gì? Ý nghĩa và nghi thức tụng đúng cách
Nội dung chính xác Chú Lăng Nghiêm
Nội dung kinh Lăng Nghiêm là Phật chỉ dạy chúng sinh ngộ được chơn tâm để không bị trầm luân trong biển sanh tử và khổ sở. Nội dung cụ thể như sau:
“Nam mô Lăng Nghiêm Hội thượng Phật Bồ tát (đọc 3 lần)
Diệu trạm tổng trì bất động tôn,
Thủ-Lăng-Nghiêm-Vương thế hi hữu,
Tiêu Ngã ức kiếp điên-đảo tưởng.
Bất lịch tăng-kỳ hoạch pháp thân,
Nguyện kim đắc quả thành bảo-vương,
Hườn độ như thị hằng sa chúng,
Tương thử thâm tâm phụng trần sát,
Thị tắc danh vị báo Phật ân:
Phục thỉnh Thế-Tôn vị chứng minh,
Ngũ-trược ác-thế thệ tiên nhập,
Như nhứt chúng sanh vị thành Phật,
Chung bất ư thử thủ nê-hoàn.
Đại –hùng đại -lực đại -từ-bi,
Hi cánh thẩm trừ vi-tế hoặc,
Linh ngã tảo đăng vô -thượng giác,
Ư thập phương giới tọa đạo tràng ;
Thuấn nhã đa tánh khả tiêu vong,
Thước –ca –ra tâm vô động chuyển.
Nam-mô thường-trụ thập-phương Phật.
Nam-mô thường-trụ thập-phương Pháp.
Nam-mô thường-trụ thập-phương Tăng.
Nam-mô Thích-Ca Mâu-Ni Phật.
Nam-mô Phật Đảnh Thủ-Lăng-Nghiêm.
Nam-mô Quán-Thế-Âm Bồ-Tát.
Nam-mô Kim-Cang-Tạng Bồ-Tát.
Nhĩ thời Thế-Tôn,
Tùng nhục-kế trung,
Dõng bá bảo-quang,
Quang trung dõng xuất ,
Thiên diệp bảo liên,
Hữu hóa Như-Lai,
Tọa bảo hoa trung,
Đảnh phóng thập đạo,
Bá bảo quang-minh,
Nhứt nhứt quang-minh,
Giai biến thị hiện,
Thập hằng hà sa,
Kim-Cang mật tích,
Kình sơn trì sử,
Biến hư-không giới,
Đại chúng ngưỡng quan,
Ủy ái kiêm bảo,
Cầu Phật ai hựu,
Nhứt tâm thính Phật,
Vô-kiến đảnh tướng ,
Phóng quang như Lai”.
Đệ nhất
Nam-mô tát đát tha
Tô già đa da
A ra ha đế
Tam-miệu tam bồ đà tỏa
Nam mô tát đát tha
Phật đà cu tri sắc ni sam
Nam-mô tát bà
Bột đà bột địa
Tát đa bệ tệ
Nam-mô tát đa nẩm
Tam-miệu tam bồ đà
Cu tri nẩm
Ta xá ra bà ca
Tăng già nẩm
Nam-mô lô kê A-La-Hán đa nẩm.
Nam-mô tô lô đa ba na nẩm.
Nam-mô ta yết rị đà dà di nẩm.
Nam-mô lô kê tam-miệu dà đa nẩm.
Tam-miệu dà ba ra
Ðể ba đa na nẩm.
Nam-mô đề bà ly sắc nỏa.
Nam-mô tất đà da
Tỳ địa da
Ðà ra ly sắc nỏa.
Xá ba noa
Yết ra ha
Ta ha ta ra ma tha nẩm
Nam-mô bạt ra ha ma ni
Nam-mô nhơn dà ra da
Nam-mô bà dà bà đế
Lô đà ra da.
Ô ma bát đế
Ta hê dạ da.
Nam-mô bà dà bà đế
Na ra dả
Noa da
Bàn dá ma ha tam mộ đà da
Nam-mô tất yết rị đa da
Nam-mô bà dà bà đế
Ma ha ca ra da
Ðịa rị bác lặc na
Dà ra tỳ đà ra
Ba noa ca ra da.
A địa mục đế
Thi ma xá na nê
Bà tất nê
Ma đát rị dà noa
Nam-mô tất yết rị đa da
Nam-mô bà dà bà đế
Ða tha dà đa câu ra da
Nam-mô bát đầu ma câu ra da.
Nam-mô bạc xà ra câu ra da.
Nam-mô ma ni câu ra da
Nam-mô dà xà câu ra da
Nam-mô bà dà bà đế
Ðế rị trà
Du ra tây na.
Ba ra ha ra noa ra xà da
Ða tha dà đa da
Nam-mô bà dà bà đế
Nam-mô A di đa bà da
Ða tha dà đa da
A ra ha đế.
Tam-miệu tam bồ đà da
Nam-mô bà dà bà đế
A sô bệ da
Ða tha dà đa da
A ra ha đế
Tam-miệu tam bồ đà da
Nam-mô bà dà bà đế
Bệ xa xà da
Câu lô phệ trụ rị da
Bác ra bà ra xà da
Ða tha dà đa da.
Nam-mô bà dà bà đế
Tam bổ sư bí đa
Tát lân nại ra lặc xà da
Ða tha dà đa da
A ra ha đế
Tam-miệu tam bồ đà da
Nam-mô bà dà bà đế
Xá kê dã mẫu na duệ
Ða tha dà đa da
A ra ha đế
Tam-miệu tam bồ đà da
Nam-mô bà dà bà đế
Lặc đát na kê đô ra xà da
Ða tha dà đa da
89. A ra ha đế
Tam-miệu tam bồ đà da
Ðế biều
Nam-mô tát yết rị đa
ế đàm bà dà bà đa
Tát đác tha dà đô sắc ni sam
Tát đác đa bát đác lam
Nam-mô a bà ra thị đam
Bác ra đế
Dương kỳ ra
Tát ra bà
Bộ đa yết ra ha
Ni yết ra ha
Yết ca ra ha ni
Bạt ra bí địa da
Sất đà nể
A ca ra
Mật rị trụ
Bát rị đác ra da
Nảnh yết rị
Tát ra bà
Bàn đà na
Mục xoa ni
Tát ra bà
Ðột sắc tra
Ðột tất phạp
Bát na nể
Phạt ra ni
Giả đô ra
Thất đế nẩm
Yết ra ha
Ta ha tát ra nhã xà
Tỳ đa băng ta na yết rị
A sắc tra băng xá đế nẩm
Na xoa sát đác ra nhã xà
Ba ra tát đà na yết rị
A sắc tra nẩm
Ma ha yết ra ha nhã xà
Tỳ đa băng tát na yết rị
Tát bà xá đô lô
Nể bà ra nhã xà
Hô lam đột tất phạp
Nan giá na xá ni
Bí sa xá
Tất đác ra
A kiết ni
Ô đà ca ra nhã xà
A bát ra thị đa câu ra
Ma ha bác ra chiến trì
Ma ha điệp đa
Ma ha đế xà
Ma ha thuế đa xà bà ra
Ma ha bạt ra bàn đà ra
Bà tất nể
A rị da đa ra
Tỳ rị câu tri
Thệ bà tỳ xà da
Bạt xà ra ma lễ để
Tỳ xá lô đa
Bột đằng dõng ca
Bạt xà ra chế hắt na a giá
Ma ra chế bà
Bát ra chất đa
Bạt xà ra thiện trì
Tỳ xá ra giá
Phiến đa xá
Bệ để bà
Bổ thị đa
Tô ma lô ba
Ma ha thuế đa
A rị da đa ra
Ma ha bà ra a bác ra
Bạt xà ra thương yết ra chế bà
Bạt xà ra câu ma rị
Câu lam đà rị
Bạt xà ra hắt tát đa giá
Tỳ địa da
Kiền dá na
Ma rị ca
Khuất tô mẫu
Bà yết ra đá na
Bệ lô giá na
Câu rị da
Dạ ra thố
Sắc ni sam
Tỳ chiếc lam bà ma ni giá.
Bạt xà ra ca na ca ba ra bà.
Lồ xà na
Bạt xà ra đốn trỉ giá
Thuế đa giá
Ca ma ra
Sát sa thi
Ba ra bà.
ế đế di đế
Mẫu đà ra
Yết noa.
Ta bệ ra sám
Quật phạm đô
ấn thố na mạ mạ tỏa.
Đệ nhị
“Ô Hồng
Rị sắc yết noa
Bác lặc xá tất đa
Tát đác tha
Già đô sắc ni sam
Hổ hồng đô lô ung
Chiêm bà na
Hổ hồng đô lô ung
Tất đam bà na
Hổ hồng đô lô ung
Ba ra sắc địa da
Tam bác xoa
Noa yết ra
Hổ hồng đô lô ung
Tát bà dược xoa
Hắt ra sát ta
Yết ra ha nhã xà
Tỳ đằng băng tát na yết ra
Hổ hồng đô lô ung
Giả đô ra
Thi để nẩm
Yết ra ha
Ta ha tát ra nẩm
Tỳ đằng băng tát na ra
Hổ hồng đô lô ung
Ra xoa
Bà già phạm
Tát đác tha
Già đô sắc ni sam
Ba ra điểm
Xà kiết rị
Ma ha ta ha tát ra
Bột thọ ta ha tát ra
Thất rị sa
Câu tri ta ha tát nê
Ðế lệ a tệ đề thị bà rị đa
Tra tra anh ca
Ma ha bạt xà lô đà ra
Ðế rị bồ bà na
Man trà ra
Ô hồng
Ta tất đế
Bạt bà đô
Mạ mạ
ấn thố na mạ mạ tỏa”.
Đệ tam
“Ra xà bà dạ
Chủ ra bạt dạ
A kỳ ni bà dạ
Ô đà ca bà dạ
Tỳ xa bà dạ
Xá tát đa ra bà dạ
Bà ra chước yết ra bà dạ
Ðột sắc xoa bà dạ
A xá nể bà dạ
A ca ra
Mật rị trụ bà dạ
Ðà ra nị bộ di kiếm
Ba già ba đà bà dạ
Ô ra ca bà đa bà dạ
Lặc xà đàn trà bà dạ
Na dà bà dạ
Tỳ điều đát bà dạ
Tô ba ra noa bà dạ
Dược xoa yết ra ha
Ra xoa tư yết ra ha
Tất rị đa yết ra ha
Tỳ xá giá yết ra ha
Bô đa yết ra ha
Cưu bàn trà yết ra ha
Bổ đơn na yết ra ha
Ca tra bổ đơn na yết ra ha
Tất kiền độ yết ra ha
A bá tất ma ra yết ra ha
Ô đàn ma đà yết ra ha
Xa dạ yết ra ha
Hê rị bà đế yết ra ha
Xả đa ha rị nẩm
Yết bà ha rị nẩm
Lô địa ra ha rị nẩm
Mang ta ha rị nẩm
Mê đà ha rị nẩm
Ma xà ha rị nẩm
Xà đa ha rị nữ
Thị tỷ đa ha rị nẩm
Tỳ đa ha rị nẩm
Bà đa ha rị nẩm
A du giá ha rị nữ
Chất đa ha rị nữ
Ðế sam tát bệ sam
Tát bà yết ra ha nẩm
Tỳ đà dạ xà
Sân đà dạ di
Kê ra dạ di
Ba rị bạt ra giả ca
Hất rị đởm
Tỳ đà dạ xà
Sân đà dạ di
Kê ra dạ di
Trà diễn ni
Hất rị đởm
Tỳ đà dạ xà
Sân đà dạ di
Kê ra dạ di
Ma ha bát du bát đác dạ
Lô đà ra
Hất rị đởm
Tỳ đà dạ xà
Sân đà dạ di
Kê ra dạ di
Na ra dạ noa
Hất rị đởm
Tỳ đà dạ xà
Sân đà dạ di
Kê ra dạ di
Ðát đỏa dà lô trà tây
Hất rị đởm
Tỳ đà dạ xà
Sân đà dạ di
Kê ra dạ di
Ma ha ca ra
Ma đác rị già noa
Hất rị đởm
Tỳ đà dạ xà
Sân đà dạ di
Kê ra dạ di
Ca ba rị ca
Hất rị đởm
Tỳ đà dạ xà
Sân đà dạ di.
Kê ra dạ di
Xà dạ yết ra
Ma độ yết ra
Tát bà ra tha ta đạt na
Hất rị đởm
Tỳ đà dạ xà
Sân dà dạ di
Kê ra dạ di
Giả đốt ra
Bà kỳ nể
Hất rị đởm
Tỳ đà dạ xà
Sân đà dạ di
Kê ra dạ di
Tỳ rị dương hất rị tri
Nan đà kê sa ra
Dà noa bác đế
Sách hê dạ
Hất rị đởm
Tỳ đà dạ xà
Sân đà dạ di
Kê ra dạ di
Na yết na xá ra bà noa
Hất rị đởm
Tỳ đà dạ xà
Sân đà dạ di
Kê ra dạ di
A-la-hán
Hất rị đởm
Tỳ đà dạ xà
Sân đà dạ di
Kê ra dạ di
Tỳ đa ra dà
Hất rị đởm
Tỳ đà dạ xà
Sân đà dạ di
Kê ra dạ di
Bạt xà ra ba nể
Câu hê dạ câu hê dạ
Ca địa bát đế
Hất rị đởm
Tỳ đà dạ xà
Sân đà dạ di
Kê ra dạ di
Ra xoa vỏng
Bà dà phạm
ấn thố na mạ mạ tỏa”
Đệ tứ
“Bà dà phạm
Tát đác đa bát đác ra
Nam-mô tý đô đế
A tất đa na ra lặc ca
Ba ra bà
Tất phổ tra
Tỳ ca tát đác đa bát đế rị
Thập Phật ra thập Phật ra
Ðà ra đà ra
Tần đà ra tần đà ra
Sân đà sân đà
Hổ hồng hổ hồng.
Phấn tra phấn tra phấn tra phấn tra phấn tra.
Ta ha
Hê hê phấn
A mâu ca da phấn
A ba ra đề ha da phấn
Ba ra bà ra đà phấn
A tố ra
Tỳ đà ra
Ba ca phấn
Tát bà đề bệ tệ phấn
Tát bà na dà tệ phấn
Tát bà dược xoa tệ phấn
Tát bà kiền thát bà tệ phấn
Tát bà bổ đơn na tệ phấn
Ca tra bổ đơn na tệ phấn
Tát bà đột lang chỉ đế tệ phấn.
Tát bà đột sáp tỷ lê
Hất sắc đế tệ phấn
Tát bà thập bà lê tệ phấn
Tát bà a bá tất ma lê tệ phấn
Tát bà xá ra bà noa tệ phấn.
Tát bà địa đế kê tệ phấn
Tát bà đát ma đà kê tệ phấn
Tát bà tệ đà da
Ra thệ giá lê tệ phấn
Xà dạ yết ra
Ma độ yết ra
Tát bà ra tha ta đà kê tệ phấn.
Tỳ địa dạ
Giá lê tệ phấn
Giả đô ra
Phược kỳ nể tệ phấn
Bạt xà ra
Câu ma rị;
Tỳ đà dạ
La thệ tệ phấn
Ma ha ba ra đinh dương
Xoa kỳ rị tệ phấn
Bạt xà ra thương yết ra dạ
Ba ra trượng kỳ ra xà da phấn
Ma ha ca ra dạ
Ma ha mạt đát rị ca noa
Nam-mô ta yết rị đa da phấn.
Tỷ sắc noa tỳ duệ phấn
Bột ra ha mâu ni duệ phấn
A kỳ ni duệ phấn
Ma ha yết rị duệ phấn
yết ra đàn tri duệ phấn
Miệc đát rị duệ phấn
Lao đát rị duệ phấn
Giá văn trà duệ phấn
Yết la ra đác rị duệ phấn.
Ca bát rị duệ phấn
A địa mục chất đa
Ca thi ma xá na
Bà tư nể duệ phấn
Diễn kiết chất
Tát đỏa bà tỏa
Mạ mạ ấn thố na mạ mạ tỏa”.
Đệ ngũ
“Ðột sắc tra chất đa
A mạt đác rị chất đa
Ô xà ha ra
Dà ba ha ra
Lô địa ra ha ra
Ta bà ha ra
Ma xà ha ra
Xà đa ha ra
Thị tỉ đa ha ra
Bạt lược dạ ha ra
Kiền đà ha ra
Bố sữ ba ha ra
Phả ra ha ra
Bà tả ha ra
Bát ba chất đa
Ðột sắc tra chất đa.
Lao đà ra chất đa
Dược xoa yết ra ha
Ra sát ta yết ra ha
Bế lệ đa yết ra ha
Tỳ xá giá yết ra ha
Bộ đa yết ra ha
Cưu bàn trà yết ra ha
Tất kiền đà yết ra ha
Ô đát ma đà yết ra ha
Xa dạ yết ra ha
A bá tất ma ra yết ra ha.
Trạch khê cách
Trà kỳ ni yết ra ha
Rị Phật đế yết ra ha
Xà di ca yết ra ha
Xá câu ni yết ra ha
Lao đà ra
Nan địa ca yết ra ha
A lam bà yết ra ha
Kiền độ ba ni yết ra ha
Thập phạt ra
Yên ca hê ca
Trị đế dược ca
Ðát lệ đế dược ca
Giả đột thác ca
Ni đề thập phạt ra
Tỉ sam ma thập phạt ra
Bạt để ca
Tỷ để ca
Thất lệ sắc mật ca
Ta nể bát để ca
Tát bà thập phạt ra
Thất lô kiết đế
Mạt đà bệ đạt lô chế kiếm
A ỷ lô kiềm
Mục khê lô kiềm
Yết rị đột lô kiềm
Yết ra ha
Yết lam yết noa du lam
Ðản đa du lam
Hất rị dạ du lam
Mạt mạ du lam
Bạt rị thất bà du lam
Tỷ lật sắc tra du lam
Ô đà ra du lam
Yết tri du lam
Bạt tất đế du lam
Ô lô du lam
Thường dà du lam
Hắc tất đa du lam
Bạt đà du lam
Ta phòng án dà
Bát ra trượng dà du lam
Bộ đa tỷ đa trà
Trà kỳ ni
Thập bà ra
Ðà đột lô ca
Kiến đốt lô kiết tri
Bà lộ đa tỳ
Tát bát lô
Ha lăng già
Du sa đát ra
Ta na yết ra
Tỳ sa dụ ca
A kỳ ni
Ô đà ca
Mạt ra bệ ra
Kiến đa ra
A ca ra
Mật rị đốt
Ðát liểm bộ ca
Ðịa lật lặc tra
Tỷ rị sắc chất ca
Tát bà na câu ra
Tứ dẫn dà tệ
Yết ra rị dược xoa
Ðác ra sô
Mạt ra thị
Phệ đế sam
Ta bệ sam
Tất đát đa bát đác ra
Ma ha bạt xà lô
Sắc ni sam
Ma ha bát lặc trượng kỳ lam
Dạ ba đột đà
Xá dụ xà na
Biện đát lệ noa
Tỳ đà da
Bàn đàm ca lô di
Ðế thù
Bàn đàm ca lô di
Bát ra tỳ đà
Bàn đàm ca lô di
Ðát điệt tha
Án
A na lệ
Tỳ xá đề
Bệ ra
Bạt xà ra
Ðà rị
Bàn đà bàn đà nể
Bạt xà ra bán ni phấn
Hổ hồng đô lô ung phấn
Ta bà ha”.
Ý nghĩa Chú Lăng Nghiêm tại thời kỳ mạt pháp
Bảo vệ Chánh Pháp trước sự suy thoái
Thời kỳ Mạt Pháp là giai đoạn mà các tư tưởng sai lệch, tà kiến và sự hiểu sai về đạo Phật ngày càng lan rộng. Con người dễ bị mê hoặc bởi những pháp tu không chính thống, khiến chánh pháp dần bị lu mờ. Do đó, trì tụng Chú Lăng Nghiêm không chỉ giúp cá nhân tu tập mà còn góp phần duy trì ánh sáng Phật Pháp, bảo vệ sự trong sáng của đạo Phật giữa thời đại đầy biến động.
Giúp hành giả vững tâm tu tập, không bị dao động
Thời kỳ Mạt Pháp là thời kỳ con người dễ bị xáo động bởi những thay đổi của xã hội, bởi những khó khăn và áp lực của cuộc sống. Nhiều người dù có duyên với Phật pháp nhưng lại thiếu kiên trì, dễ bị lay động bởi ngoại cảnh mà bỏ dở việc tu tập. Chú Lăng Nghiêm giúp hành giả củng cố định lực, giữ tâm kiên định trước mọi thử thách. Khi trì tụng thường xuyên, người tu sẽ có một nội tâm vững vàng, không bị cuốn theo những cám dỗ hay khó khăn, từ đó có thể duy trì con đường tu tập một cách lâu dài và bền vững.
Khai mở trí tuệ, soi sáng con đường giải thoát
Trong thời Mạt Pháp, việc tìm được minh sư và học đúng chánh pháp trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. Nhiều người vì không có trí tuệ nên dễ bị lừa gạt, đi sai đường mà không hề hay biết. Trì tụng Chú Lăng Nghiêm giúp hành giả khai mở trí tuệ, nhận diện đúng sai, không bị tà kiến dẫn dắt. Khi trí tuệ phát triển, hành giả có thể nhìn rõ bản chất vô thường của cuộc đời, từ đó buông bỏ chấp niệm và đi đúng hướng trên con đường giác ngộ, giải thoát khỏi luân hồi sinh tử.
Trên đây là những thông tin cơ bản về Chú Lăng Nghiêm là gì, ý nghĩa và lợi ích nhận được khi trì tụng. Đừng quên theo dõi nhiều tin tức khác hữu ích của chúng tôi tại website bchannel.vn.
Tin liên quan
Cách chép hồng danh Địa Tạng Vương Bồ Tát: Phát nguyện, hồi hướng
Kiến thức 13/03/2025 01:24:37

Cách chép hồng danh Địa Tạng Vương Bồ Tát: Phát nguyện, hồi hướng
Kiến thức 13-03-2025 01:24:37
Tịnh Nghiệp Tam Phước là gì? Bao gồm gì? Cách tu
Kiến thức 13/03/2025 01:20:33

Tịnh Nghiệp Tam Phước là gì? Bao gồm gì? Cách tu
Kiến thức 13-03-2025 01:20:33
Tìm hiểu Đại nguyện của Địa Tạng Vương Bồ Tát
Kiến thức 13/03/2025 01:15:31

Tìm hiểu Đại nguyện của Địa Tạng Vương Bồ Tát
Kiến thức 13-03-2025 01:15:31
Cách chép hồng danh Phật Dược Sư: Phát nguyện, hồi hướng
Kiến thức 13/03/2025 01:09:13

Cách chép hồng danh Phật Dược Sư: Phát nguyện, hồi hướng
Kiến thức 13-03-2025 01:09:13
Tụng chú Đại Bi có thật sự tiêu trừ được mọi tội lỗi?
Kiến thức 13/03/2025 00:40:54

Tụng chú Đại Bi có thật sự tiêu trừ được mọi tội lỗi?
Kiến thức 13-03-2025 00:40:54