Phật A Súc Bệ là ai? Nguồn gốc tên gọi và hạnh nguyện

17/02/2025 11:17:08 239 lượt xem

Đức Phật A Súc Bệ là vị Phật có khả năng chuyển hóa sự si mê và cơn giận của con người thành trí tuệ Đại Viên Cảnh Trí.

Phật A Súc Bệ là ai?

Đức Phật A Súc Bệ, hay còn gọi là A Súc, A Súc Tỳ Phật, hoặc Ác Khất Sô Tỳ Dã Phật, có ý nghĩa là “Bất Động Phật”, “Vô Động Phật”, “Vô Nộ Phật” hay “Vô Sân Nhuế Phật”. Ngài là một trong số Ngũ Trí Phật, tượng trưng cho trí tuệ trong năm phương, thường ngự ở phương Đông.

Theo kinh A Súc Phật Quốc, Phẩm Phát Ý Thọ Tuệ và Thiện Khoái, có ghi lại rằng trong quá khứ, ở phương Đông, có một thế giới tên A Tỷ La Đề (Abhirati). Đức Đại Mục Như Lai đã xuất hiện trong thế giới này và thuyết pháp về hạnh Lục Độ Vô Cực. Một vị Bồ-tát nghe pháp và phát tâm nguyện vươn tới sự giác ngộ, và Đức Đại Mục Như Lai vì thế rất hoan hỷ mà ban cho tên gọi A Súc.

Bồ Tát A Súc, sau khi thành Phật, ngự tại thế giới A Tỷ La Đề và vẫn tiếp tục thuyết pháp trong cõi nước của mình. Cũng theo kinh điển, trong quá khứ, Đức Đại Thông Trí Thắng Phật, khi chưa xuất gia, có 16 vương tử, và trong đó, người con thứ nhất là Trí Tích, sau này chính là Bồ-tát A Súc, thành Phật tại nước Hoan Hỷ ở phương Đông.

Tiền thân của Đức Phật A Súc Bệ

Bên cạnh đó, kinh Bi Hoa cũng ghi lại rằng khi Đức A Di Đà Phật còn là vua Vô Tránh Niệm, ngài có ngàn người con, và trong số đó, người con thứ 9, Mật Tô, chính là A Súc, người đã thành Phật tại phương Đông, trong cõi nước Diệu Lạc (hay Diệu Hỷ).

Trong kinh A Súc Phật Quốc, có một đoạn thọ ký quan trọng từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi nói với Xá-lợi-phất, rằng:

“Vị Tỳ-kheo này đã thực hành theo Tứ hoằng đại nguyện, một Đại Bồ-tát phát tâm chân chính, không còn sân hận với loài người và các sinh vật nhỏ bé. Chính vì không còn sân hận, mà ngài được gọi là A Súc, và vì không có thù hận, ngài an trú tại cõi A Súc. Đức Đại Mục Như Lai cũng hoan hỷ gọi tên ngài như vậy, cùng với các vị Thiên Vương, Đế Thích và Phạm Tam Bát đều vui mừng gọi tên ngài.”

Nguồn gốc tên gọi Phật A Súc Bệ

Khi còn là Bồ-tát, ngài đã phát nguyện trước Đức Đại Mục Như Lai rằng sẽ không để tâm sân hận đối với loài người cũng như các sinh vật nhỏ bé, do đó mới có tên gọi là A-súc-bệ (Bất Phẫn Nộ/Bất Động).

Trong kinh điển, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói với Xá-lợi-phất rằng: “Vị Tỳ-kheo này đã thực hành theo Tứ hoằng đại nguyện, là Đại Bồ-tát đã phát tâm lớn, do đó không có sự sân hận đối với con người và loài vật nhỏ bé, cũng không mang trong mình hận thù.”

Tiền thân của Đức Phật A Súc Bệ (2)

Đức Phật tiếp tục giải thích: “Vị Bồ-tát này, vì không còn tâm sân hận, nên được gọi là A-súc. Và vì không có sự thù oán, ngài an trú tại cõi A-súc. Đức Đại Mục Như Lai Vô Sở

Trước Đẳng Chính Giác cũng hoan hỷ gọi ngài như vậy, cùng với các vị Thiên Vương, trời Đế Thích và Phạm Tam Bát cũng đồng thuận gọi ngài bằng tên này.

Hạnh nguyện của Phật A Súc Bệ

Đức Bồ Tát A Súc Bệ đã phát tâm nguyện lớn trước Đức Đại Mục Như Lai, với các lời nguyện sau:

  1. Ngài nguyện không phát sinh sân hận đối với tất cả con người và các sinh vật nhỏ bé, không cầu đạt được quả vị Thanh Văn Đạo hay Duyên Giác Đạo, không nuôi dưỡng ý niệm dâm dục, không nhớ đến việc ngủ nghỉ hay có các ý niệm do dự, và không có sự nghi ngờ.
  2. Ngài nguyện không phát sinh ý niệm sát sinh, trộm cắp của cải, không làm tổn hại phẩm hạnh, không nói dối hay nuôi dưỡng sự hối hận.
  3. Ngài nguyện không phát sinh lời nói thô lỗ, ác khẩu, hay nói những lời sai sự thật. Ngài cũng không để bản thân rơi vào ngu si hay tà kiến.
  4. Ngài thực hành theo các nguyện đã phát, luôn phát tâm cầu Nhất thiết chủng trí, đồng thời giữ gìn giới luật.
  5. Ngài nguyện suốt đời thuyết pháp, làm thầy truyền giảng đạo lý, luôn nói những điều có giá trị cao quý, không bị chướng ngại. Ngài sở hữu trí tuệ vô biên, và luôn hành xử như một sa-môn đích thực.
  6. Ngài sống giản dị, ngồi dưới gốc cây, chuyên tâm hành thiền, kinh hành và an trú trong tĩnh lặng. Ngài không nghĩ về tội lỗi, không nói dối hay phỉ báng, cũng không lấy việc ăn uống làm lý do để hành xử sai trái.
  7. Ngài không phát sinh ý niệm cúng dường người ngoại đạo hay rời xa các vị Như Lai. Ngài không ngồi trên tòa cao để nghe pháp.
  8. Ngài không phân biệt người đáng bố thí hay không, mà luôn sẵn lòng chia sẻ tài sản và giúp đỡ người nghèo, khổ.
  9. Ngài luôn duy trì tâm nguyện Bồ-tát cho đến khi đạt được sự giác ngộ tối thượng.
  10. Quốc độ của ngài không có các tội lỗi, gièm pha hay những hành động xấu xa, và nơi đó luôn thanh tịnh, an lành.
  11. Ngài không gặp phải các điềm xấu trong giấc mơ.
  12. Ngài không có người mẹ bất tịnh.
  13. Nếu ngài không thoái chuyển trong nguyện lực, một ngón tay ấn xuống có thể làm đất rung chuyển mạnh mẽ.

Sau khi Đức Bồ Tát A Súc Bệ phát xong các lời nguyện, Đức Đại Mục Như Lai đã thụ ký rằng ngài sẽ đạt được quả vị A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, hiệu là A Súc Bệ Như Lai.

Tiền thân của Đức Phật A Súc Bệ (3)

Trong Kinh A Di Đà, sau khi Đức Phật Thích Ca khen ngợi công đức vô biên của Phật A Di Đà, ngài tiếp tục nói về các Phật khác, trong đó có Phật A Súc Bệ, Phật Tu Di Tướng, Phật Đại Tu Di, Phật Tu Di Quang và Phật Diệu Âm, tất cả đều có tướng lưỡi rộng dài, bao trùm ba ngàn đại thiên thế giới. Đức Phật Thích Ca khuyên rằng chúng sinh nên tin vào kinh này, bởi nó tán dương công đức vô biên và được sự hộ niệm của tất cả chư Phật.

15 lượt thích 0 bình luận

Để lại một bình luận

Tin liên quan

Cách chép hồng danh Địa Tạng Vương Bồ Tát: Phát nguyện, hồi hướng

Kiến thức 13/03/2025 01:24:37

Cách chép hồng danh Địa Tạng Vương Bồ Tát: Phát nguyện, hồi hướng

Kiến thức 13-03-2025 01:24:37

Chép hồng danh Địa Tạng Vương Bồ Tát là một phương pháp đơn giản nhưng hiệu quả để tiêu trừ nghiệp chướng và gia tăng phước báu. Đây là một việc làm dễ thực hiện được nhiều Phật tử áp dụng và nhận thấy có công đức lớn hơn so với việc chép toàn bộ kinh Địa Tạng Vương.
56 lượt xem 0 Bình luận

Tịnh Nghiệp Tam Phước là gì? Bao gồm gì? Cách tu

Kiến thức 13/03/2025 01:20:33

Tịnh Nghiệp Tam Phước là gì? Bao gồm gì? Cách tu

Kiến thức 13-03-2025 01:20:33

Tịnh nghiệp tam phước là pháp tu "Tán Thiện" dành cho phàm phu, giúp ổn định tâm trí và tu Tịnh Nghiệp. Pháp này được Phật dạy cho Bà Vi Đề Hy trong kinh Quán Vô Lượng Thọ để vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.
37 lượt xem 0 Bình luận

Tìm hiểu Đại nguyện của Địa Tạng Vương Bồ Tát

Kiến thức 13/03/2025 01:15:31

Cách chép hồng danh Phật Dược Sư: Phát nguyện, hồi hướng

Kiến thức 13/03/2025 01:09:13

Tụng chú Đại Bi có thật sự tiêu trừ được mọi tội lỗi?

Kiến thức 13/03/2025 00:40:54